Vô-lăng xe đua F-1 – Không tròn và có tới 120 linh kiện
Vô-lăng xe đua F-1, do ca-bin hẹp nên có đặc tính chung là… không có dạng tròn. Trung bình, nó được lắp ráp từ 120 linh kiện.
|

Robert Kubica (BMW-Sauber) - Ôn lại các thao tác trên vô-lăng
|
Trong F-1, tất cả mọi chi tiết trên xe đều „khác thường”. Vô-lăng cũng vậy. Nó không tròn trịa như vô-lăng xe bình dân, bởi chỗ ngồi của tài xe quá hẹp nên cung tròn phía dưới được thay bằng một đường thẳng. Nếu như trên vô-lăng xe hơi thường, ta chỉ bấm được còi (ở những chiếc xe sang trọng lắm, đắt tiền lắm mới có loại vô-lăng gắn nút chỉnh đài hay nghe điện thoại) thì tay đua F-1 có thể chỉnh sửa được hầu hết các tính năng của xe (động cơ, vi sai, hệ treo,…) thông qua hàng nút trên vô-lăng mà giữa chừng không cần bước ra ngoài. Tất nhiên, họ không có nút bấm còi – nên đành phải vượt trong… im lặng. Đổi lại, họ có nút mở vòi nước giải khát ngay trên vô-lăng.
Về cấu trúc, để giảm thiểu trọng lượng, vô-lăng F-1 được làm từ sợi các-bon tổng hợp và để tăng độ cứng, người ta thường dùng thêm kim loại titan. Mặc dù có kích thước rất nhỏ, nhưng vô-lăng F-1 chứa đầy kín đủ các loại hệ thống điện tử, biển báo, đồng hồ, màn hình hiển thị. Ở phần giữa vô-lăng, bao giờ cũng có một màn hình tinh thể lỏng, hiển thị các dữ liệu quan trọng nhất như tốc độ vòng quay máy hay quãng thời gian mà tay đua vừa hoàn thành vòng chạy. Ở hai bên cạnh vô lăng là tai gạt dùng để sang số và tai gạt điều khiển côn. Tay đua thường sử dụng tai gạt côn lúc họ muốn khởi hành nhanh, sau khi rẽ vào phố box bơm xăng thay lốp. Trên mặt vô lăng có chi chít những nút là nút. Thông qua hàng nút đó, tay đua có thể bật máy bộ đàm liên lạc với các kỹ sư trong ga-ra, hạn chế tốc độ khi rẽ vào phố box hoặc mở vòi uống nước giải khát như đã nói trên. Vô-lăng F-1 có khoảng 120 linh kiện. Để lắp ráp và chế tạo ra một chiếc vô-lăng này, các kỹ sư và thợ máy lành nghề phải bỏ ra chừng 100 giờ làm việc miệt mài. Vì ca-bin của xe đua rất chật nên muốn chui vào xe, tay đua phải tháo vô-lăng ra trước và chỉ lắp vô-lăng vào vị trí khi đã yên vị trên ghế ngồi. Nếu muốn rời khỏi xe, tay đua cũng phải trải qua đúng quy trình đó, theo chiều ngược lại. Theo luật của FIA, để bảo đảm công tác cứu nạn, sau khi rời xe giữa đường do gặp trục trặc hoặc do tai nạn, ngay lập tức, tay đua phải gắn lại vô-lăng vào trục lái để đội cứu hộ có thể điều khiển được xe.
|

Hãy so sánh cách bố trí nút trên vô-lăng của Heidfeld...
|
Thoạt nhìn, vô-lăng F-1 rất giống nhau. Nhất là ở chỗ có hàng trăm nút bấm xanh đỏ rắc rối. Nhưng nếu xem xét kỹ thì vô-lăng của hai tay đua trong một đội đua cũng có cấu tạo khác nhau, phù hợp với phong cách lái. Hãy so sánh vô-lăng của Jacques Villeneuve và vô-lăng của Nick Heidfeld (cùng thuộc đội BMW-Sau ber) dùng trong mùa giải năm ngoái. Vô-lăng của Heidfeld dẹt hơn và nút BO (Burn Out) cùng nút LA (Lambda) cùng được chuyển lên giữa trục. Villeneuve „nghe đài” qua nút bấm „R” (Radio) để bên trái, còn Heidfeld chuyển nút này sang bên phải. Tương tự như vậy, trong khi Villeneuve để các nút chọn menu rất cân xứng thì Heidfeld lại đưa nút Wing (Wing Angle Info Switch) xuống góc dưới bên trái.
|
.jpg)
... và vô-lăng của Villeneuve trên chiếc BMW 2006.
|
Màn hình tinh thể lỏng giữa vô-lăng là loại màn hình đa chức năng, có thể hiển thị rất nhiều dữ liệu khác nhau. Bằng nút chọn menu, tay đua có thể xem sơ đồ sân đua qua màn hình hoặc đọc những tin nhắn cảnh báo được gửi tới từ ga-ra. Trên màn hình thường có một hàng đèn LED. Công dụng chính của hàng đèn này là báo hiệu cho tay đua thời điểm phải sang số.
Vô-lăng xe đua F-1 sở dĩ chứa đựng rất nhiều nút bấm như vậy là để bảo đảm cho tay đua có thể điều khiển mọi chức năng mà không cần phải rời tay khỏi vô-lăng hay rời mắt khỏi đường đua. Nhưng cũng chính vì quá rắc rối nên việc sử dụng thành thạo những chiếc vô lăng này cũng là một thách thức lớn cho các tài xế F-1.

1. PL (Pit Lane Speed Limiter – Nút tự động hạn chế tốc độ khi rẽ vào box)
2. Differential + (Nút chỉnh vi sai)
3. Engine Push (Nâng công suất máy)
4. Gear Upshift (Tai gạt lên số)
5. Traction Control + (Tăng lực kéo)
6. Cụm điều chỉnh mức độ tăng giảm của công suất máy
7. Clutch (Tai gạt côn)
8. Cụm điều chỉnh lực kéo
9. Team Info Inlap (Liên lạc với ga-ra)
10. Burn Out
11. Cụm điều khiển trung tâm
12. Lambda
13. Diagnostic (Kiểm tra chung tình trạng hiện thời của xe đua)
14. Cụm điều chỉnh tính năng khí động lực học (Wing Angle Info Switch)
15. Tai gạt côn
16. Cụm chọn cấp vi sai
17. Team Radio (Bộ đàm liên lạc)
18. Traction Control – (Giảm lực kéo)
19. Gear Downshift (Cần gạt về số)
20. Engine Break
21. Differential –
22. Neutral (Số 0)
23. Nút chỉnh menu màn hình trung tâm