Tyrrell P34
Xe đua 6 bánh
Cũng như các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ khác, F1 cũng sản sinh những đứa con đặc biệt của mình và một trong số đó là chiếc P34, xe đua 6 bánh của Ken Tyrrell từng xuất hiện trong mùa giải 1976-77.

Vào cuối những năm 60’, đầu những năm 70’, các kỹ sư thiết kế xe đua bắt đầu quan tâm tới lực nén của luồng khí tác động lên thân xe. Lực này xuất hiện khi luồng gió thổi ngược chiều xe chạy tác động lên những chi tiết khí động lực học (cánh gió) gắn trên thân xe, ép thân xe xuống mặt đường và làm tăng độ bám đường của xe. Tuy nhiên, lực nén của luồng khí thường xuất hiện cùng với lực cản và khó khăn mà các kỹ sư phải đối mặt là tìm ra sự cân bằng hợp lý giữa hai loại lực nói trên. Lực nén của luồng khí càng lớn thì tốc độ vào cua của xe đua càng cao nhưng cùng lúc đó, lực cản gia tăng sẽ làm xe chậm lại ở các đoạn thẳng. Làm thế nào để có một chiếc xe vừa nhanh trong khúc cua lại vừa nhanh trong các đoạn thẳng dài? Thoạt tiên, người ta áp dụng loại cánh gió có thể thay đổi góc nghiêng nhưng đó là giải pháp rất nguy hiểm và sau vài vụ tai nạn, FIA đã cấm không cho sử dụng những chi tiết khí động lực học không được gắn cố định trên thân xe.
Vào khoảng hè năm 1975, ông bầu Ken Tyrrell và nhà thiết kế trưởng của đội Tyrrell là Derek Gardner bắt tay vào thiết kế chiếc xe đua cho mùa giải mới. Giữa lúc công việc đang bề bộn, Gardner bỗng nảy ra một ý tưởng mới lạ, làm giảm lực cản của luồng khí nhưng không ảnh hưởng tới lực nén tác động lên thân xe. Vì xe đua F1 không có hốc bánh nên hai bánh trước quay tự do và tạo ra lực cản đáng kể. Trước đó, một vài đội đua đã thử lắp loại bánh trước nhỏ hơn cho xe đua nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc làm giảm độ bám đường do diện tích của bề mặt tiếp xúc giữa lốp với mặt đường giảm. Gardner cũng sử dụng loại lốp tí hon 10 inch do Goodyear chế tạo nhưng để bù lại diện tích tiếp xúc với mặt đường bị thiếu hụt, ông đã nghĩ ra cách dùng hai bộ lốp trước(!). Và, dưới tên gọi Project 34, viết tắt là P34, chiếc xe đua 6 bánh, gồm 2 bánh sau và 4 bánh trước nhỏ xíu, độc đáo vào bậc nhất trong F1, đã ra đời như vậy.
Mặc dù bắt tay vào chế tạo xe từ cuối hè năm 1975 nhưng Derek Gardner không thể hoàn thiện tác phẩm của mình vào đầu mùa giải 1976 bởi ông đã vấp phải những khó khăn về mặt kỹ thuật mà quan trọng nhất là việc cân chỉnh hệ thống phanh. Những lúc phanh gấp, nếu hai bánh ở hàng thứ nhất của trục trước trong bộ 4 bánh này bị bó cứng thì khoảng cách giữa hai trục bánh (tính từ 2 bánh sau đến hai bánh ở hàng thứ hai của trục trước) sẽ giảm đi và ngược lại, nếu hai bánh sau trong bộ 4 bánh bị bó cứng thì khoảng cách giữa hai trục bánh lại tăng lên và dù khoảng cách giữa hai trục bánh tăng lên hay giảm đi thì điều đó cũng gây ảnh hưởng trực tiếp tới tính năng lái của xe. Ngoài ra, để giảm thiểu lực cản của không khí tác động lên bánh trước, Derek Gardner đã gắn loại cánh gió hình chiếc xẻng vào mũi xe, che kín bánh trước. Ca-bin liền khối được đặt rất thấp và vị trí lái của tay đua khá cao nên tại chiếc Tyrrell P34, tay đua ngồi trên xe chứ không phải là ngồi trong ca-bin. Để bảo vệ tay đua, Gardner đã lắp đặt một hàng kính bao quanh ca-bin và hai cửa sổ nhỏ để tay đua có thể quan sát lốp trước....
Bài viết trên tạp chí Công nghiệp Ô tô số tháng 7/2009
